Nghe nhạc

Điểm tin giáo dục

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Hồ Xuân Phương)

Ảnh ngẫu nhiên

Genhz7279393899540_7435b89fb9027ea240f1703e35689beb.jpg Genn11.jpg Genh22.jpg Genhz7181288857094_fc69b99d593dc7c22b1ea367461ec19b.jpg Genhz7181288567582_3e4e0f8e8961e413c49df644d784ec95.jpg Genhz7181288692936_379a8fc4012772e97acc056dd31d6018.jpg Genhz7181288607075_94751728fbee35d592b047b991c68941.jpg Z6796038431924_2a0ae28393803f07878a217282caf2da.jpg Z6796036961009_b0c7668133714a812ae6948d72c8a077.jpg Anh_nen.jpg 13267707_1722369238037754_2834636832018045665_n1.jpg 13267707_1722369238037754_2834636832018045665_n.jpg 13265991_1722369401371071_2720863743942422259_n.jpg 13263835_1722369351371076_2107077196890933289_n.jpg 13256094_1722369611371050_1833467220616196329_n.jpg 13263727_1722369688037709_379680165203925046_n.jpg 13255931_1722369281371083_962319911397864651_n.jpg 13254104_1722369784704366_6209589883735616739_n.jpg

Thành viên trực tuyến

4 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > Tin tức - Văn bản >

    Chuyên đề: ĐỔI MỚI SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN DỰA TRÊN NGHIÊN CỨU BÀI HỌC

    I. TỔ CHUYÊN MÔN TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

    1. Vai trò của tổ chuyên môn trong nhà trường phổ thông

              Tổ chuyên môn hoặc nhóm chuyên môn (sau đây gọi chung là tổ chuyên môn) là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, quản lý của trường phổ thông. Trong trường, các tổ chuyên môn coa mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp với các bộ phận nghiệp vụ khác và các tổ chức Đảng, đoàn thể trong nhà trường, chương trình giáo dục và các hoạt động giáo dục khác hướng tới mục tiêu giáo dục.

              Tổ chuyên môn là đầu mối quản lý mà Hiệu trưởng nhất thiết phải dựa vào đó để quản lý nhà trường trên nhiều phương diện, đặc biệt là hoạt động giáo dục, dạy học và hoạt động sư phạm của giáo viên.

              Tổ chuyên môn là nơi giáo viên sinh hoạt chuyên môn và chia sẻ những tâm tư, tình cảm cũng như khó khăn trong đời sống. Chính vì thế tổ chuyên môn có vai trò tập hợp, đoàn kết các thành viên trong tổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên trong trường phổ thông.

    2. Nhiệm vụ của tổ chuyên môn

    Theo quy định tại khoản 2, Điều 16 Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGD ĐT ngày 18/3/2011, tổ chuyên môn có các nhiệm vụ chính sau đây:..

    3. Sinh hoạt tổ chuyên môn

    Tổ chuyên môn mỗi tháng  sinh hoạt ít nhất 2 lần theo quy định. Nội dung sinh hoạt chuyên môn tập trung vào việc phát hiện và gải quyết những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện chương trình, về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh gia kết quả giáo dục,…Ví dụ:

    - Một số nội dung mới, khó trong chương trình môn học

    - Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình

    - Đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng chương trình

    - Đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực.

    - Bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh kém

    - Tự bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên

    - Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

    - Hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học

    - Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn

    - Tổ chức dự giờ và rút kinh nghiệm giờ dạy dựa trên nghiên cứu bài học.

    II. ĐỔI MỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN DỰA TRÊN NGHIÊN CỨU BÀI HỌC (NCBH)

    1. Mục đích

    Theo quan điểm dạy học hiện đại, quá trình dạy học là quá trình tổ chức hoạt động tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Vai trò của giáo viên trong dạy học hiện đại là tổ chức, định hướng và kiểm tra hoạt động của học sinh. Trong học tập, học sinh sử dụng tư liệu dạy học, trao đổi và tranh luận với nhau, trao đổi và tranh luận với giáo viên. Vì vậy, hoạt động của học sinh là trung tâm của quá trình dạy học. Sinh hoạt chuyên môn cũng phải được thực hiện theo hướng lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm.

    Mục đích của sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cuaus bài học là nhằm phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và năng lực học tập cho học sinh, qua đó từng bước nâng cao chất lượng dạy và học trong trường. Cụ thể là:

    - Đảm bảo cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia quá trình học tập, không có học sinh nào bị bỏ rơi;

    - Khuyến khích, tạo cơ hội cho giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực thông qua dự giờ minh họa mỗi giáo viên tự rút ra kinh nghiệm để vận dụng trong ác giờ dạy của mình.

    - Giúp giáo viên tìm các giải pháp trong quá trình dạy học nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh. Người dự tập trung phân tích hoạt động học nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh, phát hiện những khó khăn mà học sinh gặp phải, tìm các giải pháp nhằm nâng cao kết quả học tập, mạnh dạn đưa ra những thay đổi, điều chỉnh nội dung, cách dạy cho phù hợp.

    - Góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường: cải thiện mối quan hệ giữa lãnh đạo nhà trường với giáo viên, giáo viên với giáo viên, giáo viên với học sinh, cán bộ quản lí/giáo viên/học sinh với nhân viên trong nhà trường; tạo môi trường “trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

    Sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học không thực hiện đánh giá giờ học và đánh giá, xếp loại giáo viên.

    2. Các bước thực hiện sinh hoạt chuyên môn dựa trên NCBH

    2.1. Thiết kế bài dạy minh họa

    Bài dạy minh họa được một nhóm giáo viên và tổ trưởng chuyên môn /Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn thiết kế và đưa ra thảo luận ở tổ chuyên môn trước khi thực hiện. Nhóm thiết kế được khuyến khích linh hoạt, sáng tạo, chủ động, không lệ thuộc một cách máy móc vào quy trình, các bước dạy trong sách giáo khoa hạy sách giáo viên. Nhóm thiết kế có thể điều chỉnh nội dung/tư liệu trong sahs giáo khoa, điều chỉnh thời lượng, lựa chọn các phương pháp, kỹ thuật dạy học, đồ dùng dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh.

    Các hoạt động đưa ra trong thiết kế bài học cần đảm bảo đạt được mục tiêu của bài học, tạo cơ hội cho tất cả học sinh được tham gia vào quá trình học tập và cải thiện được kết quả học tập của học sinh.

    2.2. Thực hiện bài học minh họa và dự giờ

    Người dạy minh họa thay mặt cho nhóm thiết kế thể hiện các ý tưởng đã thiết kế trong bài học. Tuy nhiên trong quá trình dạy bài minh họa nếu có tình huống mới xảy ra không đúng với dự kiến đã thiết kế thì người dự giờ dạy minh họa vẫn có thể linh hoạt thay đổi phương pháp cho phù hợp với tình huống xảy ra nhưng vẫn phải đảm bảo mục tiêu và kiến thức của bài học. Trong quá trình dạy học, người dạy quan tâm đến những khó khăn của học sinh, lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, gần gũi, dễ hiểu phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh. Kết quả bài học là kết quả chung của cả nhóm thiết kế. Giáo viên dạy minh họa nhằm khẳng định những giả thiết về nội dung, phương pháp dạy học của nhóm thiết kế có phù hợp với học sinh không, do đó không cần dạy trước, luyện tập trước cho học sinh.

    Người dự giờ đứng ở vị trí thuận lợi để có thể quan sát, ghi chép, quay phim, vẽ sơ đồ chỗ ngồi của học sinh một cách dễ dàng nhất. Thông thường nên đứng ở hai góc lớp phía trên để có thể dễ dàng quan sát học sinh hoạt động. Khi quan sát học sinh, cần đặt trọng tâm quan sát vào các biểu  hiện tâm lí, thái độ, hành vi trong các tình huống, hoạt động học tập cụ thể của học sinh. Kết hợp nghe, nhìn, suy nghĩ, ghi chép, quay phim, chụp ảnh để có dữ liệu phân tích nhằm trả lời cá câu hỏi: Học sinh học như thế nào? Học sinh gặp khó khăn gì? Vì sao? Cần thay đổi như thế nào để kết quả học tập của học sinh tốt hơn.

    2.3. Thảo luận (suy ngẫm) về giờ dạy minh họa

    Giáo viên dạy minh họa chia sẻ về mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những thay đổi, điều chình về nội dung, phương pháp dạy học, những cảm nhận của mình qua giờ học, những điều thỏa mãn và chưa thỏa mãn trong quá trình dạy minh họa. Người dự giờ đưa ra các ý kiến nhận xét góp ý về giờ học theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, lắng nghe mang tính xây dựng. Các ý kiến thảo luận, góp ý tập trung vào phân tích các hoạt động của học sinh, cùng suy nghĩ tìm ra nguyên nhân vì sao học sinh chưa tích cực tham gia vào các hoạt động học, học chưa kết quả… và đưa ra các biện pháp thay đổi cách thức tổ chức hoạt động học nhằm đạt mục tiêu của bài học, tạo cơ hội học tập cho mọi học sinh, không có học sinh bị “bỏ rơi” trong quá trình học tập. Nếu giờ học chưa đạt được kết quả như mong muốn thì cũng không đánh giá cá nhân người dạy mà coi đó là bài học chung cho mỗi giáo viên tự rút kinh nghiệm. Người chủ trì dẫn dắt buổi thảo luận tập trung vào các nội dung trọng tâm, tạo không khí thân thiện, cởi mở và luôn linh hoạt xủa lí các tình huống xảy ra trong quá trình thảo luận. Tôn trọng và lắng nghe tất cả ý kiến của giáo viên, không áp đặt ý kiến của mình hoặc một nhóm người. Cuối buổi thảo luận, người chủ tì tóm tắt lại vấn đề thảo luận và đưa ra các biện pháp hỗ trợ việc học của học sinh. Những người tham dự tự suy nghĩ rút kinh nghiệm và lựa chọn các biện pháp áp dụng cho các giờ dạy của mình. Trong sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học không đánh giá xếp loại giờ học và không đánh giá xếp loại giáo viên.

    2.4. Áp dụng cho thực tế dạy học hằng ngày

    Đây là bước làm gián tiếp, không nằm trực tiếp trong quy trình sinh hoạt chuyên môn. Tuy nhiên, nó không tách rời việc sinh hoạt chuyên môn vì sau các buổi sinh hoạt chuyên môn, giáo viên sã nghiên cứu, vận dụng, kiểm nghiệm những gì đã học và tự rút thêm nhũng vấn đề thắc mắc, băn khoăn. Trên cơ sở tiếp tục tìm tòi trong sinh hoạt chuyên môn (giáo viên có thể dạy lại bài học đó, chuẩn bị bài minh họa tiếp theo) hoặc áp dụng vào các giờ học hằng ngày của mình. Việc làm này giúp giáo viên trở thành những “nhà nghiên cứu thực hành”. Việc sinh hoạt chuyên môn suy cho cùng là để giáo viên có năng lực mới, vận dụng trong công việc hằng ngày. Ý nghĩa đích thực của sinh hoạt chuyên môn là giúp giáo viên không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn để đảm bảo tốt việc nâng cao chất lượng từng bài học của học sinh.

    Bảng dưới đây so sánh sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học

     

    Sinh hoạt chuyên môn truyền thống

    Sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học

     

     

    Mục đích

    - Đánh giá, xếp loại giờ dạy

    - Tập trung vào hoạt động dạy của giáo viên

    - Thống nhất cách dạy để các giáo viên cùng thực hiện

    - Tìm giải pháp để nâng cao kết quả học tập của học sinh

    - Tập trung vào hoạt động học của học sinh

    - Mỗi giáo viên tự rút ra bài học để áp dụng

    Thiết kế bài dạy

    - Một giáo viên thiết kế và dạy minh họa

    - Thực hiện theo đúng nội dung, quy định

    - Một nhóm giáo viên thiết kế. Một giáo viên dạy minh họa.

    - Dựa vào trình độ của học sinh để lựa chọn nội dung, phương pháp, quy trình cho phù hợp.

     

     

     

    Dạy minh họa- dự giờ

    Người dạy minh họa

    - Dạy theo nội dung kiến thức có trong sách giáo khoa.

    - Thực hiện quy trình giờ dạy theo đúng quy trình chung.

    Người dự

    - Ngồi cuối lớp học, quan sát, ghi chép cử chỉ việc làm của giáo viên

    - Tập trung xem xét giáo viên dạy có đúng quy định không.

    - Đối chiếu với các tiêu chí đánh giá xếp loại giờ học.

    Người dạy minh họa

    - Điều chỉnh các nội dung dạy học phù hợp với nhu cầu của học sinh.

    - Thực hiện tiến trình giờ dạy linh hoạt, sáng tạo dựa trên khả năng của học sinh.

    Người dự

    - Đứng hai bên, phía trước lớp học quan sát, vẽ sơ đồ chỗ ngồi của học sinh.

    - Tập trung quan sát xem học sinh học thế nào.

    - Suy nghĩ, phát hiện khó khăn trong học tập của học sinh đưa ra các biện pháp khắc phục.

     

     

    Thảo luận về giờ dạy

    - Dựa trên tiêu chí có sẵn, đánh giá xếp loại giờ dạy.

    - Tập trung nhận xét phân tích hoạt động của giáo viên.

    - Ý kiến nhận xét, đánh giá mang tính mổ xẻ, chỉ trích, chủ quan.

    - Người chủ trì xếp loại giờ dạy, thống nhất cách dạy cho tất cả giáo viên.

    - Dựa trên kết quả học tập của học sinh để rút kinh nghiệm.

    - Tập trung phân tích việc học của học sinh, đưa ra minh chứng cụ thể.

    - Mọi người cùng phát hiện vấn đề học của học sinh, tìm nguyên nhân, giải pháp khắc phục.

    - Người chủ trì tóm tắt vấn đề, tìm nguyên nhân và giải pháp. Mỗi giáo viên tự rút ra bài học.

    3. Kĩ thuật tổ chức sinh hoạt chuyên môn dựa trên NCBH

              3.1. Một số yêu cầu và kỹ thuật dự giờ

              - Lãnh đạo nhà trường/tổ trưởng chuyên môn cùng dự giờ với giáo viên;

              - Dự giờ minh họa đòi hỏi sự tập trung cao độ của các giáo viên. Vị trí quan sát của người dự giờ rất quan trọng. Muốn có thông tin chính xác về việc học của học sinh người dự cần phải đứng đối diện với học sinh để thấy được nét mặt, hành động, thao tác, sản phẩm của học sinh. Người dự giờ có thể quan sát học sinh học một cách tốt nhất và đứng ở một chỗ trong suốt thời gian dự giờ, tránh đi lại làm ảnh hưởng đến lớp học. Trong quá trình quan sát người dự cần phải đánh dấu, ghi chép những biểu hiện tâm lý, thái độ, hành vi của một số học sinh (có thể quan sát được) trong các hoạt động/tình huống cụ thể như: Hoạt động nào? Bài tập nào? Thời điểm nào? Biểu hiện của học sinh đó như thế nào? Tại sao lại như vậy?...

              - Người dự giờ cần vẽ sơ đồ chỗ ngồi, quan sát, nghe, nhìn, suy nghĩ và ghi chép diễn biến hoạt động học của học sinh trong giờ học và những biểu hiện tâm lý của học sinh thể hiện trong các hoạt động/tình huống cụ thể mà không bị bỏ sót khi quan sát.

              - Cần quan sát cách sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học mới của giáo viên, những đồ dùng dạy học và nội dung được điều chỉnh có tác động, ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh như thế nào.

              - Cần quan sát những biểu hiện qua nét mặt, thái độ, hành vi, mối quan hệ tương tác giữa học sinh - giáo viên, học sinh- học sinh. Người dự giờ luôn phải đặt câu hỏi cho mình là “Học sinh học được gì? Học sinh có hứng thú không? Vì sao có? Vì sao không? Học sinh có biểu hiện như thế nào? Hoạt động nhóm có thực sự đảm bảo cơ hội cho tất cả học sinh tham gia? Có học sinh nào bị “bỏ quên” không?...

              - Người dự cần chụp ảnh hoặc quay phim các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trong các tình huống nhưng không làm ảnh hưởng đến giờ học; ghi chép/ghi âm các câu hỏi của giáo viên và câu trả lời của học sinh, quan sát thái độ của học sinh, các biểu hiện trên nét mặt khi thực hiện nhiệm vụ, kết quả và sản phẩm…Từ đó suy nghĩ, phân tích tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp tích cực hơn. Ví dụ:

              + Khi giáo viên đặt câu hỏi mà một hay nhiều học sinh không trả lời được thì giáo viên phải phân tích: vì sao nhiều  học sinh không trả lời được câu hỏi? Có phải học sinh không hiểu câu hỏi? Câu hỏi có quá khó đối với học sinh? Nếu thực sự quá khó thì cần thay đổi câu hỏi như thế nào để học sinh có thể trả lời được?

              + Trong hoạt động thực hành chỉ có một số ít học sinh làm đúng, phần đông học sinh làm sai, vậy tại sao học sinh làm sai? Có thể học sinh chưa hiểu cách làm, tại sao chưa hiểu? Do ngôn ngữ hay do cách giải thích của giáo viên chưa rõ, cần thay đổi ngôn ngữ hay thay đổi cách giải thích như thế nào để học sinh dễ hiểu hơn… Mỗi giáo viên đều có cách suy nghĩ, cảm nhận, có cách giải quyết vấn đề khác nhau, nên khi chia sẻ cùng nhau làm cho buổi thảo luận trở nên sôi nổi, bổ ích và sâu sắc.

              + Khi nhiều học sinh không tham gia và hoạt động trên lớp, cần phải đặt câu hỏi: Vì sao nhiều học sinh không tham gia hoạt động? Có thể học sinh chưa hiểu rõ nhiệm vụ hay nhiệm vụ đó quá khó/quá dễ đối với học sinh, cần phải làm thế nào để học sinh tích cực tham gia hoạt động này?

    3.2. Kĩ thuật quan sát học sinh

    - Thái độ của học sinh tham gia thể hiện qua nét mặt, hành vi: thích thú, tích cực, chán nản uể oải;

    - Khả năng thực hiện các nhiệm vụ học tập: sự vừa sức, hiểu lời hướng dẫn;

    - Hoạt động nào học sinh hứng thú hay không hứng thú? Vì sao?

    - Hoạt động nào thu hút được tất cả học sinh tham gia? Vì sao?

    - Giáo viên làm thế nào để thu hút học sinh tham gia?

    - Những học sinh nào chưa/không tham gia vào hoạt động? (chú ý đến những học sinh rất tích cực và những học sinh chưa tích cực);

    - Khi học sinh làm việc trong nhóm: Thời gian có đủ để học sinh thực hiện nhiệm vụ được giao không? Có học sinh nào không tham gia? Vì sao? Có thể làm gì để tất cả học sinh tham gia?

    - Có học sinh nào không làm việc khi giáo viên giao nhiệm vụ cho cá nhân? Vì sao?

    - Giáo viên có biết khai thác kinh nghiệm/kiến thức cũ của học sinh không?

    - Những kiến thức/những kĩ năng mới nào mà học sinh học được thông qua hoạt động/giờ học.

    - Sử dụng Phiếu quan sát khi dự giờ:

    Nội dung hoạt động

    Biểu hiện của học sinh

    Nguyên nhân, biện pháp

    Hoạt động 1

    - Tên hoạt động

    - Nội dung của hoạt động, nhiệm vụ, câu hỏi, bài tập…

    Hoạt động 2

    …..

     

    - Cảm xúc, thái độ, hành vi, trả lới câu hỏi,

    - Bài tập, sản phẩm…

     

    Vì…

    Nên…

    Có thể là…

              3.3. Chụp ảnh và quay video khi dự giờ

               Việc chụp ảnh hoặc quay video bài học minh họa rất có lợi cho các buổi thảo luận. Những hình ảnh giờ học được trình chiếu lại sẽ giúp người dự có những minh chứng cụ thể cho các ý kiến nhận xét của mình. Các ý kiến nhận xét sẽ trở nên khách quan, có tính thuyết phục làm mọi người dễ dàng chấp nhận, tiếp thu các ý kiến phản hồi một cách tích cực. Nó cũng giúp người dạy nhìn lại quá trình dạy- học của chính mình, tự nhận ra ưu điểm và hạn chế của giờ học để rút kinh nghiệm. Hoặc khi quan sát các biểu hiện tâm lý của một học sinh cụ thể ta có thể dừng hình ảnh đó lại để quan sát kỹ nét mặt, hành vi của học sinh này. Qua đó hiểu học sinh đang học như thế nào, đang chịu áp lực gì, có thoải mái hay không…Thông qua việc phân tích hình ảnh cụ thể mỗi giáo viên đều có thể học được từ người khác những nhận xét bổ ích. Ngoài ra, những hình ảnh, màu sắc, âm thanh sống động của video cũng giúp cho buổi sinh hoạt chuyên môn tập trung vào trọng tâm, mang lại hiệu quả cho người dự và người dạy trở nên hứng thú hơn.

    Việc chụp ảnh và quay video giờ dạy cần chú ý những điểm sau:

    - Chú ý không làm phiền đến hoạt động của giáo viên và học sinh trong lớp.

    - Người quay phim hay chụp ảnh không đứng che khuất học sinh, làm cho học sinh không thấy bảng hay giáo viên.

    - Khi quay cận cảnh khuôn mặt, thái độ  học sinh cần chú ý không làm học sinh xao lãng việc học hay làm cho em cảm thấy khó chịu.

    - Khi quay các sản phẩm học tập của học sinh không tự bố trí, can thiệp, xáo trộn công việc mà các em đang làm.

    3.4. Tổ chức buổi thảo luận về bài học minh họa

    Trong quá trình thảo luận, người chủ trì cần lưu ý:

    - Sử dụng hình ảnh đã chụp được hoặc ghi hình trong tiết học một cách hiệu quả. Có thế yêu cầu người phụ trách kĩ thuật tua đi, tua lại, hoặc dừng lại ở một số hình ảnh để làm minh chứng cho các ý kiến nhận xét, đảm bảo tính khách quan.

    - Định hướng các ý kiến tập trung vào vấn đề quan tâm, điều chỉnh kịp thời các ý kiến mang tính chỉ trích, áp đặt, chủ quan. Khi nhắc nhỏ nên hết sức nhẹ nhàng, tinh tế, vui vẻ, có thể hài hước (không đối đầu với ý kiến trái ngược, không làm cho không khí trở nên căng thẳng, trầm lắng, tạo nên không khí ngại phát biểu).

    - Hình thành và xây dựng kĩ năng lắng nghe và phản hồi mang tính xây dựng, đặt mình vào vị trí người dạy để có sự chia sẻ tích cực, không biến người dạy thành mục tiêu phê phán, làm người dạy ấm ức, nảy sinh các ý nghĩ tiêu cực, mâu thuẫn cá nhân…

    - Người chủ trì là người khơi dậy để các giáo viên được nói ý kiến của mình, do đó không nên nói nhiều, không áp đặt ý kiến chủ quan của mình lên người khác, không lên lớp bắt buộc người nghe phải chấp nhận, không nên chốt lại, nhắc lại ý kiến vừa phát biểu làm mất thời gian, gây nhàm chán.

    - Người chủ trì cần lắng nghe tích cực, ghi chép và đặt câu hỏi nhẹ nhàng để khơi gợi các ý kiến tập trung vào vấn đề trọng tâm. Ví dụ: khi giáo viên ngại phát biểu thường nói “ý kiến của tôi trùng với ý kiến của các đồng chí vừa phát biểu”. Trong trường hợp này người chủ trì nhẹ nhàng yêu cầu: Vậy bạn/cô giáo có thể nói rõ hơn ý kiến của mình hoặc nhắc lại ý kiến mà bạn đồng tình…

    - Tạo cơ hội cho tất cả giáo viên đều được phát biểu, khuyến khích giáo viên đưa ra nhiều ý kiến, kể cả ý kiến trái chiều, tránh tình trạng lấn át ý kiến của người khác.

    - Khuyến khích giáo viên không chỉ nêu hiện tượng mà cần nêu rõ nguyên nhân và giải pháp khắc khục.

    - Trong sinh hoạt chuyên môn mới, người chủ trì không tổng kết, không chốt lại, nhưng có thể tóm tắt lại các vấn đề cần lưu ý, các giải pháp để mỗi giáo viên tự suy nghĩ rút kinh nghiệm/áp dụng trong các giờ thực tế và các buổi sinh hoạt chuyên môn sau.

     

    Tiến trình buổi thảo luận có thể thực hiện như sau:

    (1) Người chủ trì nêu mục đích của buổi thảo luận.

    (2) Giáo viên dạy minh họa đại diện cho nhóm thiết kế nêu mục tiêu cần đạt của bài, những ý tưởng thay đổi về nội dung, phương pháp, đồ dùng dạy học để phù hợp với đối tượng học sinh cụ thể và cảm nhận sau khi dạy bài học, sự hài lòng, những băn khoăn hay khó khăn khi thực hiện bài dạy.

    (3) Giáo viên dự giờ chia sẻ ý kiến về giờ học.

    Sau khi giáo viên dạy minh họa trình bày, các giáo viên tham dự có thể đặt câu hỏi để hiểu rõ hơn ý đồ của người dạy. Nhóm thiết kế giáo án cùng có trách nhiệm trả lời câu hỏi của người tham gia dự và bổ sung ý kiến để làm rõ hơn ý đồ thiết kế của cả nhóm.

    Nếu có chụp ảnh hay quay video giờ học, người chủ trì có thể cho giáo viên xem lại hình ảnh các hoạt động trọng tâm hoặc dừng lại ở một số hoạt động tiêu biểu (học sinh hứng thú, tích cực, mệt mỏi, chán nãn, ngủ gật, không tập trung…). Khuyến khích tất cả giáo viên dự giờ chia sẻ những quan sát, suy nghĩ, cảm nhận của mình về giờ học, những thông tin thu được trong quá trình quan sát. Người dự giờ có thể mô tả một tình huống học tập có vấn đề hoặc mô tả chi tiết hoạt động của một học sinh hay một nhóm học sinh, phân tích nguyên nhân của hiện tượng đó và đưa ra giải pháp nếu cần thiết…

    Các câu hỏi gợi ý khi thảo luận

    - Những điều mình học được qua bài học minh họa?

    - Những khó khăn của học sinh biểu hiện trong giờ học?

    - Nguyên nhân của những khó khăn mà học sinh gặp phải?

    - Giải pháp khắc khục những khó khăn của học sinh?

    - Mô tả những hiện tượng quan sát được, những biểu hiện cụ thể của học sinh như: nét mặt, thái độ, hoạt động, sản phẩm…

    - Bài học có gì mới/sáng tạo so với sách giáo khoa, điều này được thể hiện qua kết quả học tập của học sinh như thế nào?

    - Các nội dung/hoạt động học tập có phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh hay không? (đủ thời gian học, dễ hiểu, thu hút sự tham gia của học sinh).

    - Các phương pháp, kĩ thuật dạy học có làm cho học sinh hứng thú mang lại hiệu quả thực sự hay không? Tại sao? (hoạt động nhóm. Cá nhân).

    - Học sinh được quan tâm/hỗ trợ như thế nào (học sinh tích cực, học sinh yếu kém, học sinh bị “bỏ quên”…).

    - Học sinh có cơ hội liên hệ kiến thức đã biết để hình thành kiến thức mới như thế nào?

    - Mối quan hệ giữa giáo viên- học sinh; giữa học sinh- học sinh trong các tình huống như thế nào?

    - Học sinh học được gì qua mỗi hoạt động? 

    - Các hoạt động có tác động đến việc hình thành nhân cách/giáo dục kĩ năng sống cho học sinh như thế nào? (sự tự tin, kĩ năng trình bày, kĩ năng lãnh đạo, điều khiển hoạt động nhóm, kĩ năng giao tiếp, hợp tác nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng kiên định…)

    Để đảm bảo không khí sinh hoạt tổ chuyên môn thân thiện, cởi mở, không căng thẳng nặng nề, người chủ trì cần lắng nghe tích cực và khéo léo hướng buổi thảo luận đi đúng trọng tâm, đạt được mục đích, không nên để người dự mổ xẻ, phân tích, xoi mói những hạn chế của giáo viên dạy minh họa.

    Người góp ý cần căn cứ vào mục tiêu của bài học để hiến kế đưa ra các giải pháp để giúp người dạy khắc phục những hạn chế sao cho tạo cơ hội cho tất cả học sinh đều được tham gia học tập, tiếp thu kiến thức một cách có hiệu quả.

    Mỗi người dự tìm ra những yếu tố tích cực, suy nghĩ xem mình đã học được gì từ bài học này (kể cả việc rút kinh nghiệm từ những cái sai của đồng nghiệp) trước khi đưa ra những nhận xét về những hạn chế của người học. Người dự nên nêu những phát hiện mà giáo viên dạy minh họa có thể không nhìn thấy vì chưa bao quát hết được…) điều này sẽ giúp cho giáo viên nhìn lại mình và tự điều chỉnh để hoàn thiện hơn trong các giờ học sau.

    Không áp đặt ý kiến, kinh nghiệm chủ quan cá nhân, quá chú trọng đến các quy trình truyền thống của một giờ dạy. Khi đưa ra nhận xét, người dự không nên sử dụng những câu nói như: “Nếu là tôi, tôi sẽ… hoặc “tóm lại, chúng ta cần/cách tốt nhất là…”. Người dự cần đặt mình vào vị trí của người thực hiện giờ học để chia sẻ những khó khăn và những kết quả của giờ học. Đặc biệt là không đánh giá giáo viên, không xếp loại giờ học và không kết luận cần phải thay đổi cách nào. Trong quá trình thảo luận, các giáo viên sẽ đưa ra rất nhiều giải pháp khác nhau, tuy nhiên mỗi giáo viên sẽ tự suy nghĩ và lựa chọn giải pháp phù hợp với học sinh và điều kiện học tập của lớp mình.

    Nếu cần thiết, các giáo viên có thể cùng thảo luận thiết kế lại bài học dựa trên thực tế và những kinh nghiệm, biện pháp được rút ra trong bài học minh họa để kiểm chứng cho những giải pháp đã đưa ra.

    4. Công tác chuẩn bị để sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học.

    Việc thay đổi thói quen từ sinh hoạt chuyên môn truyền thống sang sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học cần phải có thời gian chuẩn bị về tư tưởng cũng như cơ sở vật chất để đảm bảo tính khác quan và khoa học.

    4.1. Nhiệm vụ của lãnh đạo nhà trường và tổ trưởng chuyên môn

    Trước hết, lãnh đạo nhà trường/tổ trưởng chuyên môn phải làm thay đổi nhận thức và vai trò chủ động trong việc tạo niềm tin cho giáo viên về những thay đổi tích cực của bản thân học sinh trong các buổi dự giờ sinh hoạt chuyên môn; thực sự coi sinh hoạt chuyên môn là cơ sở, là biện pháp quan trọng để thay đổi chất lượng học tập của học sinh và văn hóa nhà trường. Để thực hiện được điều đó, lãnh đạo nhà trường cần tìm hiểu đầy đủ thông tin và cách thcs thực hiện mô hình sinh hoạt chuyên môn mới; tổ chức cuộc họp để giới thiệu mô hình sinh hoạt chuyên môn mới; nêu sự cần thiết và những lợi ích mà sinh hoạt chuyên môn mới mang lại; thành lập nhóm tư vấn cho các buổi sinh hoạt chuyên môn, gợi ý phân công người dạy minh họa, tổ chức nhóm thiết kế bài học, dự giờ, thảo luận và vận dụng những điều học được vào thực thế.

    Nhà trường cần xây dưng kế hoạch tổ chức sinh hoạt chuyên môn; lên kế hoạch bổ sung trang thiết bị- dạy học để đảm bảo cho các hoạt động dạt và học của trường như: máy ảnh, máy chiếu, áy quay video.

    4.2. Nhiệm vụ của giáo viên

    Giáo viên cần chủ động tìm hiểu nội dung, cách thức thực hiện mô hình sinh hoạt chuyên môn mới; tự nguyện xung phong dạy minh họa, tích cực sáng tạo trong việc đề xuất những nội dung và phương pháp mới để thiết kế bài học. Bên cạnh đó, giáo viên cần học cách quan sát học sinh học, ghi chép, lắng nghe, suy nghĩ; học cách lắng nghe và phản hồi mang tính xây dựng, tích cực tham gia thảo luận sâu về những khó khăn, nguyên nhân và hướng giải quyết khi dự giờ. Quan trọng hơn cả là tự rút kinh nghiệm cho bản thân sau khi dự giờ để điều chỉnh nội dung, cách dạy cho phù hợp với học sinh của mình.

    4.3. Điều kiện cho sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học

    Trong sinh hoạt chuyên môn truyền thống, thông thường hiệu phó phụ trách chuyên môn chủ trì buổi sinh hoạt. Tuy nhiên, trong cách sinh hoạt chuyên môn mới thì việc hiệu trưởng chủ trì các buổi sinh hoạt có vai trò rất quan trọng. Bởi vì hiệu trưởng là người có quyền quyết định tối cao nhất đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Vì vây, cùng với hiệu phó chuyên môn, hiệu trưởng có trách nhiệm:

    - Giải đáp những thắc mắc của giáo viên trong cuộc  họp để đảm bảo sự đồng thuận của giáo viên trong việc thực hiện sinh hoạt chuyên môn mới.

    - Cùng với giáo viên thảo luận những khó khăn có thể gặp phải và tìm phương án giải quyết.

    - Chỉ đạo sâu sát hoạt động sinh hoạt chuyên môn; là người điều hành chính trong buổi sinh hoạt chuyên môn; là người đặt các câu hỏi hoặc nêu vấn đề trọng tâm để định hướng cho giáo viên thảo luận.

    - Xây dưng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn của nhà trường, kiên định thực hiện kế hoạch, đảm bảo và thực hiện đúng kỹ thuật sinh hoạt chuyên môn mới.

    4.4. Các giai đoạn sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học

    (1) Giai đoạn thứ nhất

    - Thay đổi thói quen về cách dự giờ, xây dựng quan hệ đồng nghiệp.

    - Thay đổi cách quan sát và suy nghĩ về việc dạy của giáo viên và học của học sinh.

    - Hình thành thói quen lắng nghe chia sẻ ý kiến, xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp thân thiện, cộng tác và học tập lẫn nhau.

    - Xác định được mục tiêu sinh hoạt chuyên môn là giúp giáo viên có cơ hội học tập lẫn nhau. Sinh hoạt chuyên môn không phải là nơi để giáo viên giỏi dạy giáo viên yếu.

    (2) Giai đoạn thứ hai

    - Tập trung phân tích các nguyên nhân, các mối quan hệ trong giờ học và tìm biện pháp cải thiện, nâng cao chất lượng dạy học.

    - Đi sâu nghiên cứu, phân tích các phương án dạy học hiệu quả nhằm đáp ứng được yêu cầu và khả năng học của học sinh; tìm hiểu về các mối quan hệ của học sinh với học sinh trong lớp, các kỹ năng cần thiết của giáo viên để nâng cao chất lượng học tập của học sinh.

    - Tăng cường khả năng độc lập, sáng tạo, thử nghiệm những ý tưởng mới vào bài dạy minh họa. Áp dụng tất cả những ý tưởng mới, những hiểu biết về phương pháp dạy học tích cực để rút kinh nghiệm trong sinh hoạt chuyên môn và áp dụng trong các bài học hàng ngày.


    Nhắn tin cho tác giả
    Hồ Xuân Phương @ 14:59 04/11/2013
    Số lượt xem: 2044
    Số lượt thích: 2 người (Lê Thị Hồng Tính, Lê Hoàng Kháng)
     
    Gửi ý kiến

    Điểm báo